banner-tu-du_Gas_1440x164.jpg
Có phải những dấu chỉ điểm là không cần thiết trong chẩn đoán hình ảnh sản khoa hiện đại

Trong hơn 30 năm qua, nhiều ấn bản nghiên cứu đã viết về giá trị của việc siêu âm tuần 20 để nhận ra những thai nhi có bất thường nhiễm sắc thể. Riêng với hội chứng down, việc nhận biết này đặc biệt khó khăn vì hầu hết các trường hợp đều không có những bất thường cấu trúc quan trọng.

Các phương pháp chẩn đoán trước sinh trúng đích các lệch bội nhiễm sắc thể

Sự tiến bộ của các phương pháp sàng lọc không xâm lấn trisomy 21 (Hội chứng Down) và các rối loạn lệch bội nhiễm sắc thể khác trong quý 1 và quý 2 của thai kỳ đã làm thay đổi sâu sắc các chỉ định chẩn đoán trước sinh trong thập kỷ qua.

Phương pháp ARRAY GCH trong chẩn đoán trước sinh

Phân tích dưới kính hiển vi các nhiễm sắc thể của tế bào nuôi cấy được xem là phương pháp chuẩn để chẩn đoán di truyền tế bào trước sinh từ lần đầu được áp dụng năm 1966 và phân tích band nhiễm sắc thể thường quy vào đầu những năm 1970.

Chẩn đoán trước sinh lệch bội nhiễm sắc thể qua sinh thiết gai nhau

Thực hiện sinh thiết gai nhau chẩn đoán lệch bội nhiễm sắc thể cho các thai phụ có nguy cơ cao qua sàng lọc ở 3 tháng đầu.

Tầm soát tiền sản giật

Tiền sản giật có ảnh hưởng đến khoảng 2-4% số thai, là nguyên nhân chính gây tử vong mẹ và con. Không có phương pháp nào chứng minh hiệu quả của việc dự phòng tiền sản giật. Tuy nhiên, qua 50 năm nghiên cứu đã cho thấy việc khám thai thường xuyên giúp phát hiện các thai kỳ nguy cơ cao trong tiền sản giật để có thể cải thiện tình trạng cao huyết áp.

Khâu trong mổ lấy thai

Mổ lấy thai là can thiệp ngoại khoa thực hành nhiều nhất trên toàn thế giới. Chúng ta nhận thấy mặc dù phương thức kỹ thuật thay đổi nhiều giữa các phẫu thuật viên và ê kíp. Trong bài viết này, y văn mới được phân tích nhằm cố gắng xác định quy trình tốt nhất. Bàn về kỹ thuật mở thành bụng và cơ tử cung, kỹ thuật của Joel-Cohen (hoặc Stark) có vẻ ưu thế, cụ thể là mở bằng tay.

Nhau cài răng lược: chẩn đoán và điều trị

Trong vài thập kỷ, tỷ lệ mắc nhau cài răng lược tăng lên đáng kể (khoảng 1/2000-2500 ca sanh). Sự gia tăng này liên quan với tăng tỷ lệ mổ lấy thai trong 30 năm trở lại đây.

Đái tháo đường thai kỳ: hậu sản, ngừa thai, tiên lượng mẹ theo khuyến cáo thực hành CNGOF 2010

Sản phụ bị đái tháo đường thai kì phải được theo dõi đường huyết ngay sau sanh để đảm bảo sự trở về bình thường của đường huyết mà không cần điều trị (Ý kiến chuyên gia). Theo một số ít nghiên cứu, những sản phụ cho con bú không có sự tiến triển của rối loạn chuyển hóa ít nhất trong suốt thời gian cho con bú.

Đái tháo đường thai kỳ: theo dõi chuyển dạ theo khuyến cáo thực hành CNGOF 2010

Trường hợp đái tháo đường thai kỳ được cân bằng tốt bằng chế độ ăn hoặc insuline và chưa có tác hại lên thai thì hướng xử trí không khác so với một thai kỳ bình thường (khuyến cáo mức độ C). Còn trường hợp đái tháo đường thai kì chưa được điều chỉnh tốt hoặc đã có tác hại lên thai thì khuyến cáo nên khởi phát chuyển dạ ở thời điểm mà phải cân nhắc về cân bằng lợi ích và nguy cơ của mẹ và con.

Nhiễm CMV – CMV và thai kỳ

CMV có mặt trên toàn cầu. Khoảng trên 1% sơ sinh bị nhiễm CMV từ mẹ. Cuộc sống cộng đồng và vệ sinh cá nhân kém là điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển. Trẻ có thể nhiễm CMV âm thầm. CMV có trong sữa mẹ, nước miếng, phân người và nước tiểu. CMV có thể lây truyền qua đường tình dục hay truyền máu. Một khi đã nhiễm, CMV sẽ tồn tại suốt đời trong cơ thể người nhiễm bệnh.

1234567
...