banner-tu-du_Sonno_1440x164---T7.2019.jpg
Điều trị ung thư nội mạc tử cung giai đoạn tiến xa

Khảo sát 40 trường hợp ung thư nội mạc tử cung giai đoạn III – IV được điều trị tại bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 1 năm 2001 đến tháng 12 năm 2005. Chúng tôi ghi nhận: 65% bệnh nhân < 60 tuổi, triệu chứng xuất huyết âm đạo bất thường (90%), tử cung to hơn 8 cm (siêu âm) 53,8%, nội mạc tử cung dày hơn 8 mm (70%). Giải phẫu bệnh chiếm ưu thế là carcinôm tuyến grad III 42,5%. Phẫu thuật cắt được tử cung chiếm 67,5%, di căn hạch chậu 57,5%. Tái phát chủ yếu là tại chỗ tại vùng 54,5%. Thời gian sống còn 3 năm là 24,8%

Điều trị ung thư buồng trứng ở trẻ em

Bệnh thường được chẩn đoán ở trẻ từ 11- 15 tuổi. Đau bụng và bướu ổ bụng là triệu chứng thường gặp. Bướu bên phải gặp bên phải nhiều hơn bên trái, hai bên 2 trường hợp. Hầu hết bệnh ở giai đoạn I, giai đoạn Iiông , 18% và giai đoạn III, 23%.

Điều trị bảo tồn ung thư tế bào mầm buồng trứng
Liệu pháp nội tiết trong điều trị ung thư vú sớm

Trước đây, liệu pháp nội tiết trong điều trị ung thư vú được hiểu là sự phá vỡ trục estrogen – thụ thể estrogen, bằng cách loại bỏ nguồn tạo ra estrogen (phẫu thuật cắt bỏ hai buồng trứng, xạ trị vào hai buồng trứng), hoặc bằng cách ức chế hay ngăn chặn sự tương tác của estrogen – thụ thể estrogen (bổ sung nội tiết), nhưng dựa trên kết quả những nghiên cứu lâm sàng trong thời gian qua thì liệu pháp nội tiết còn nhắm đến các cặp phức hợp “trục” hormone – thụ thể.

Đánh giá kết quả tầm soát ung thư vú tại cộng đồng của 19 xã 02 huyện Phú Vang &Hương Thuỷ - Thừa Thiên Huế năm 2008

Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ, việc phát hiện sớm ung thư vú thông qua tầm soát ở những phụ nữ bình thường sẽ cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh. Khám vú và tự khám vú ít tốn kém, nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp đỡ người phụ nữ phát hiện sớm, được điều trị sớm và tiên lượng sẽ tốt.

Độc tính và đáp ứng của hóa xạ trị đồng thời trong ung thư cổ tử cung giai đoạn IIB-IIIB.
Điều trị các tổn thương tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ II và III bằng phương pháp khoét chóp sử dụng vòng cắt đốt điện

Qua nghiên cứu hồi cứu, mô tả cắt ngang 621 trường hợp tân sinh trong biểu mô cổ tử cung độ II-III được điều trị bằng phương pháp khoét chóp sử dụng vòng cắt đốt điện tại bệnh viện Từ Dũ từ 1/1/2006 đến 31/12/2008, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

Các tiến bộ về chẩn đoán và điều trị ung thư phụ khoa

Các tiến bộ về kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh và sinh học đã giúp cho ta phát hiện sớm ung thư phụ khoa, các phương pháp điều trị ít xâm hại mà kết quả tối đa đảm bảo sống còn của bệnh nhân lâu dài.

Tỷ lệ hiện mắc nhiễm HPV của phụ nữ Tp.HCM và các yếu tố liên quan

Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả được thực hiện trên phụ nữ 18-69 tuổi, đã có quan hệ tình dục trong cộng đồng thuộc các quận huyện TP HCM được chọn vào mẫu nghiên cứu. Các số liệu liên quan đến nghiên cứu được thu thập qua bảng câu hỏi soạn sẵn gồm 16 câu hỏi liên quan đến nhân khẩu, xã hội học, tiền sử của vợ và chồng với các yếu tố liên quan đến nhiễm HPV, bệnh sử phụ khoa của lần khám này, phần khám lâm sàng và chẩn đoán lâm sàng. Sau khi phỏng vấn bằng bảng thu thập số liệu, các đối tượng tham gia nghiên cứu được khám phụ khoa, được thử nghiệm định tính và định týp HPV.

Khảo sát giá trị của xét nghiệmVIA trong tầm soát tổn thương tiền ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một loại ung thư phổ biến ở phụ nữ trên toàn thế giới. Tại TP Hồ Chí Minh nhờ những chương trình tầm soát, phát hiện sớm UTCTC với PAP, tỉ lệ phụ nữ bị UTCTC đã giảm từ 28/100.000 dân theo ghi nhận của năm 1998 còn 16/100.000 dân vào năm 2003. Tuy vậy, đây vẫn là một tỉ lệ cao mà ngành y tế phía Nam cần phấn đấu để hạ thấp hơn nữa, vì ở miền Bắc, tỉ lệ phụ nữ bị UTCTC là 9,5/100.000 dân (năm 2004) và ở Trung Quốc, một nước sát cạnh Việt Nam, tỉ lệ phụ nữ bị ung thư cổ tử cung là 6,8/100.000.

1234567
...