trang-trong.jpg
TB 2 - VP - P1-01.jpg
Biến chứng phẫu thuật sàn chậu, báo cáo trường hợp và những khuyến cáo.

Bài báo cáo trong HN Việt - Pháp lần thứ 16, ngày 19&20/5/2016

TB 2 - VP - P1-01.jpg
Điều trị sa sinh dục bằng phương pháp phẫu thuật: Liệu còn có những chỉ định qua ngả âm đạo trong năm 2016?

Bài báo cáo trong HN Việt - Pháp lần thứ 16, ngày 19&20/5/2016

TB 2 - VP - P1-01.jpg
Phẫu thuật nội soi treo vào mỏm cùng nhô trung điều trị sa sinh dục

Bài báo cáo trong HN Việt - Pháp lần thứ 16, ngày 19&20/5/2016

Logotudu.jpg
Chứng co thắt âm đạo

Chứng co thắt âm đạo, là tình trạng về thể chất hoặc tâm lý có ảnh hưởng đến khả năng của một người phụ nữ  khi có bất kỳ hình thức xâm nhập âm đạo nào, bao gồm cả quan hệ tình dục, chèn tampons trong khi hành kinh, và ngay cả việc thăm khám phụ khoa. Điều này được cho là kết quả của một sự co thắt cơ âm đạo không tự ý, làm cho người phụ nữ cảm thấy đau đớn và không thể chịu đựng được bất kỳ loại xâm nhập âm đạo nào, bao gồm cả giao hợp. Trong khi thiếu chứng cứ để xác định rõ ràng cơ nào chịu trách nhiệm cho sự co thắt, các cơ mu-cụt, thường được gợi ý. Những cơ khác như cơ nâng hậu môn, cơ hành hang, cơ vòng âm đạo, cơ cạnh âm đạo, cũng đã được đề nghị.

UBT1.jpg
Cập nhật tầm soát ung thư buồng trứng

Ung thư buồng trứng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do các bệnh lý ác tính tại các nước phát triển. Đây là loại ung thư gây tử vong đứng hàng thứ 4 tại Anh và thứ 5 tại Mỹ. Tại châu Á, ung thư buồng trứng là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ 5 tại Singapore và thứ 6 tại Hồng Kông. Triệu chứng thường mơ hồ như khó chịu hoặc chướng bụng, vì vậy hầu hết các trường hợp được phát hiện khi bệnh đã tiến triển. Việc chẩn đoán muộn có thể là nguyên nhân chính góp phần làm cho tiên lượng chung xấu.

Vai trò của Metformin trong điều trị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) và đái tháo đường trong thai kỳ

Cập nhật những bằng chứng hiện nay về hiệu quả điều trị của Metformin, dùng đơn thuần hoặc phối hợp với clomiphene citrate ở phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS). Hiệu quả được đánh giá bằng: tỉ lệ rụng trứng, có thai và sinh sống. Đồng thời, cập nhật những bằng chứng về việc sử dụng metformin trong thai kỳ và giai đoạn nuôi con bằng sữa mẹ.

Cập nhật xử trí lạc nội mạc tử cung

Lạc nội mạc tử cung (LNMTC) là một bệnh lý phụ khoa thường gặp với suất độ khoảng 6 – 10% phụ nữ trong lứa tuổi sinh sản (2), tần suất bệnh lưu hành khoảng 38% (từ 20 – 50%) ở phụ nữ vô sinh và 71 – 87% ở phụ nữ bị bị đau vùng chậu mãn tính

Khoa học cơ bản về vắc xin HPV

Sự phát hiện vai trò gây bệnh ung thư cổ tử cung của những chủng HPV nguy cơ cao và sự ra đời của vắc xin phòng chống lây nhiễm HPV là một thành tựu của khoa học. Đây là một vũ khí lợi hại trong chiến lược phòng chống ung thư cổ tử cung trên toàn cầu. Chính thành tựu này là bước tiến vĩ đại để đẩy lùi căn bệnh ác tính, hiểm nghèo, có tỉ lệ biến chứng và tử vong cao ở phụ nữ.

Bài tổng quan này, giới thiệu khái quát về cơ chế và lý luận khoa học của vắc xin phòng chống lây nhiễm HPV và hướng phát triển tương lai để nâng cao hiệu quả phòng ngừa, kể cả việc hướng tới một loại vắc xin có khả năng điều trị hiệu quả khi cơ thể đã bị nhiễm HPV.

Vai trò của METFORMIN trong điều trị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS) và đái tháo đường trong thai kỳ

Mục đích của tổng quan

Cập nhật những bằng chứng hiện nay về hiệu quả điều trị của Metformin, dùng đơn thuần hoặc phối hợp với clomiphene citrate ở phụ nữ bị hội chứng buồng trứng đa nang (PCOS). Hiệu quả được đánh giá bằng: tỉ lệ rụng trứng, có thai và sinh sống. Đồng thời, cập nhật những bằng chứng về việc sử dụng metformin trong thai kỳ và giai đoạn nuôi con bằng sữa mẹ.

Tóm tắt

Các dữ liệu lâm sàng cho thấy metformin làm tăng tỉ lệ rụng trứng và khi kết hợp với clomiphene sẽ tăng tỉ lệ rụng trứng và tỉ lệ có thai nhưng không làm tăng tỉ lệ sinh sống ở những phụ nữ bị PCOS.

Metformin sử dụng an toàn trong thai kỳ và giai đoạn nuôi con bằng sữa mẹ.

Sàng lọc nhiễm Human Papillomavirus (HPV) ở cổ tử cung bằng phương pháp PCR: ưu điểm của việc nhắm đến vùng E6/E7

Tóm tắt  

 

PCR là một phương pháp đầy hứa hẹn để phát hiện nhiễm HPV, mà các tuýp nguy cơ cao có thể gây ra căn bệnh ung thư cổ tử cung. Chất mồi PCR nhắm đến vùng L1 hoặc E1 có thể không đáng tin cậy và có thể bỏ sót nhiều trường hợp bệnh tiến triển, trong khi các chất mồi nhắm trực tiếp vào khu vực E6 hoặc E7, đây là vùng mã hóa các tác nhân gây ung thư, được ưa chuộng hơn bởi vì: 1) vùng L1/E1 bị mất khi có sự tích hợp ADN của virus vào ADN của ký chủ, trái lại vùng E6/E7 không bao giờ bị mất, đây là tiến trình đặc trưng không thể thiếu của diễn tiến từ nhiễm HPV đến tạo u; và 2) trình tự nucleotide E6/E7 cho thấy ít biến động nucleotide hơn. Sự lựa chọn vùng để sử dụng kỹ thuật PCR có ý nghĩa đối với các chiến lược sàng lọc HPV trong chẩn đoán lâm sàng và xử trí ung thư cổ tử cung.

1234567
...