trang-trong.jpg

19/05/2011

Ảnh hưởng của biện pháp hỗ trợ sinh sản trong tầm soát 3 tháng đầu

BS AndrewMclennan
Hội Siêu âm Sản Phụ Khoa -Úc

15 năm thực hiện việc đo độ mờ da gáy và các chỉ số sinh hóa đã cho khả năng phát hiện 90% hội chứng Down với tỉ lệ dương tính giả 5%. Thai kì mắc hội chứng Down có độ mờ da gáy cao (2.1 MoM) ,nồng độ BHCG tăng (1.76 MoM) và PAPP-A giảm (0.45MoM).

Thai kì có sử dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản chiếm 3,3% trẻ được sinh ra ở Úc. Có một điều  đáng chú ý là những thai kì này có chỉ số sinh hóa bất thường làm gia tăng nguy cơ dương tính giả và tăng nguy cơ thực hiện những test xâm lấn trước sanh không cần thiết.

Chúng tôi so sánh trong 1904 thai kì có sử dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản (IVF 753, ICSI 546, CryoET 605) với 57,940 thai kì không sử dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản trong khoảng thời gian 6 năm cho đến tháng 5 -2009. Những thai kì có sử dụng biện pháp hỗ trợ sinh sản lớn tuổi hơn nhóm chứng, và không có sự khác biệt trong thai kì tại thời điểm khảo sát và độ mờ da gáy trung bình đo được.

Nồng độ betaHCG tự do trong nhóm có sử dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản cao hơn nhóm chứng (khoảng 0.09MoM), đáng  chú ý là ở nhóm có sử dụng CryoET 605 (+0.13MoM). PAPP-A thấp hơn trong nhóm có sử dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản (0.11MoM), trong đó nhóm sử dụng biện pháp bơm tinh trùng là thấp nhất (-0.17MoM). Điều này cho thấy giá trị tầm soát dương gia tăng trong nhóm có sử dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản (OR 1.57) so với nhóm không có sử dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản, và vẫn đáng chú ý nhất chính là nhóm sử dụng biện pháp bơm tinh trùng (OR 1.93).

Điều quan trọng là cần phải xem lại các giá trị trung bình về sinh hóa trong từng khu vực để có thể có những hiệu  chỉnh cần thiết trong nhóm có sử dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản để bình thường hóa tỉ lệ tầm soát dương tính (từ 7.9% trong nhóm nghiên cứu này xuống trở lại 5%).

Trích Tài liệu HN Việt - Pháp lần 11, năm 2011