banner-tu-du_Sonno_1440x164---T7.2019.jpg

31/03/2010

Sẩy thai

BS. Nguyễn Châu Trí
  Khoa Phụ - BV Từ Dũ

Sẩy thai là khi thai được tống xuất ra khỏi buồng tử cung  trước 20 tuần vô kinh hay khi trọng lượng thai < 500 gr, khi thai chưa có khả  năng sống được. (WHO) 

  1. Nguyên nhân:
  • Yếu tố của thai :

Sự phát triển bất thường của hợp tử, phôi, thai và nhau. 50%  trường hợp là không có phôi, 50% do bất thường NST
    Bất thường NST
  95% bất thường NST  do lỗi tổ hợp gene của mẹ, 5% từ bố
  Các dạng bất thường NST : 

    • Autosommal trisomy (tam nhiễm) 13,16,18,21,22 thường hay gặp thai không tồn tại được. 
    • Đơn nhiễm : Turner (45,X) thai nhi có thể sống 
    • Tam bội : dẫn đến phù nhau thai => sẩy thai sớm. 
    • Đa bội 
    • Bất thường cấu trúc: ít sẩy thai

      NST bình thường

  Thường sẩy muộn hơn so với các trường hợp sẩy do bất thường NST. Thường sẩy ở tuần thứ 13, hay gặp ở phụ nữ trên 35 tuổi. 

  • Yếu tố của mẹ :
  •  
    • Viêm nhiễm :

 Nhiễm trùng có thể dẫn đến sẩy thai tuy nhiên tỷ lệ này không cao 

    • Nội tiết :

Suy giáp: thường dẫn đến sẩy thai. Phụ nữ thường thiếu hụt Thyroid do bị rối loạn miễn dịch
Tiểu đường: gặp ở tiểu đường type 2, nguy cơ phụ thuộc vào sự kiểm soát mức độ chuyển hóa trong thai kỳ. Nếu kiểm soát tốt đường huyết trong 21 ngày đầu thì sẽ giảm tỷ lệ sẩy thai. 

    • Dinh dưỡng

Ăn kiêng chế độ ăn thiếu chất ít gây sẩy thai, ngay cả nôn mửa nhiều dẫn đến sụt cân nhiều cũng hiếm khi dẫn đến sẩy thai 

    • Thuốc và các yếu tố môi trường gây sẩy thai :

Thuốc lá
Rượu : nghiện rượu sẽ gây sẩy thai và thai dị tật
Caffein: 5 ly caffein mỗi ngày (500mg caffein) sẽ là tăng nguy cơ sẩy thai
Phóng xạ
Thuốc ngừa thai: các loại thuốc uống hay bôi để ngừa thai không làm tăng nguy cơ sẩy thai. Dung cụ ngừa thai đặt trong tử cung dễ dẫn đến sẩy thai, gây nhiễm trùng.
Chất độc môi trường: arsen, chì, formaldehyde,  benzene, ethylene oxide, các loại khí gây mê … 

    • Yếu tố miễn dịch: kháng thể kháng phospholipid, kháng thể kháng tế bào nuôi …
     
    • Phẫu thuật vùng bụng: các phẫu thuật nhỏ không phức tạp không làm tăng nguy cơ sẩy thai. U buồng trứng có thể bóc mà không ảnh hưởng đến thai kỳ. Một ngoại lệ đó là nang hoàng thể hay là buồng trứng với thể vàng bên trong, nguyên nhân là do progesterone đuợc cung cấp bởi các cơ quan trên. Nếu phẫu thuật ở tuần thứ 8 –  10 cần 1 mũi 17-hydroxyprogesterone caproate 150mg ngay sau phẫu thuât. Nếu ở tuần thứ 6-8 thì cần thêm 2 liều sau liều đầu cách 1 hoặc 2 tuần.
     
    • Chấn thương
     
    • Tử cung bất thường
     
      • Bất thường tử cung mắc phải :
     
-  U xơ tử cung to, hay đa NXTC gây sẩy thai. Tuy nhiên, vị trí của u xơ quan trọng hơn là kích thước.
- Dính buồng tử cung (còn gọi là hội chứng Asherman) do nội mạc tử cung bị phá hủy rộng sau nạo phá thai. Số lượng nội mạc còn lại không đủ để nuôi dưỡng dẫn đến sẩy thai
     
      • Tử cung dị tật bẩm sinh: do tiếp xúc với diethylstillbestrol hoặc lý do khác nên quá trình hình thành và sự sát nhập ống Muller bất thường gây dị tật tử cung. Thường gây sẩy thai muộn, sanh non, ngôi  thai bất thường.
     
    • Hở eo tử cung
  • Yếu tố của cha :

Ít nghiên cứu mối liên quan đến bố, nguyên nhân bất thường NST là chủ yếu.

* Nội dung chi tiết bài viết vui lòng bạn tải file pdf.

Files đính kèm