Ngày 23/01/2026

Thông tin thuốc tháng 01/2026: Bệnh trào ngược dạ dày thực quản và thai kỳ các khuyến nghị để điều trị an toàn

    Bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) với các triệu chứng ợ nóng, buồn nôn … rất phổ biến trong thai kỳ, ảnh hưởng 30- 80% phụ nữ mang thai (1). Với tần suất và mức độ nghiêm trọng của các triệu chứng tăng lên vào cuối thai kỳ. Mục tiêu điều trị là làm giảm các triệu chứng cho thai phụ mà không gây hại cho thai nhi.

    Sinh lý bệnh

    GERD trong thai kỳ do nhiều yếu tố gây ra, bao gồm các yếu tố nội tiết tố và cơ học, do sự giảm dần áp lực cơ thắt thực quản dưới (LES), tăng estrogen và progesterone. Ngoài ra, sự gia tăng áp lực trong dạ dày thứ phát từ tử cung và những thay đổi về nhu động đường tiêu hóa, như giảm nhu động thực quản và chậm làm sạch thực quản, cũng góp phần vào sự hình thành và tiến triển của GERD trong thai kỳ (1).

    Biểu hiện lâm sàng

    Ợ nóng và trào ngược là những biểu hiện thường gặp nhất. Khoảng 17% phụ nữ mang thai bị ợ nóng và trào ngược cùng lúc. Các triệu chứng khác bao gồm buồn nôn, nôn, đầy bụng sau ăn, đau thượng vị, táo bón và thay đổi khẩu vị. Các triệu chứng có thể nặng hơn khi ăn nhiều, ăn thức ăn béo hoặc kích ứng và khi nằm nghỉ. Hầu hết phụ nữ mang thai đều gặp các triệu chứng trào ngược vào cuối tam cá nguyệt thứ nhất, và khi thai kỳ tiến triển, các triệu chứng tăng dần về cường độ và tần suất (1).

    Chẩn đoán

    Dựa trên lâm sàng, triệu chứng ợ nóng và trào ngược có độ nhạy 78% và độ đặc hiệu 60% trong chẩn đoán GERD, với sự hiện diện của hai triệu chứng điển hình này, không cần thiết phải thực hiện thêm xét nghiệm nào khác. Đo áp lực thực quản và theo dõi độ pH thực quản có thể được thực hiện một cách an toàn nhưng hiếm khi cần thiết.

    Trong trường hợp các triệu chứng trào ngược khó điều trị, biến chứng hoặc các dấu hiệu đáng báo động, cần thực hiện nội soi dạ dày, sử dụng thuốc an thần hợp lý và theo dõi chặt chẽ huyết áp và độ bão hòa oxy, lý tưởng nhất là sau ba tháng đầu của thai kỳ. Nếu xuất hiện các dấu hiệu đáng báo động (chảy máu, nôn mửa kéo dài, khó nuốt, đau ngực hoặc giảm cân không chủ ý), phụ nữ mang thai nên được chuyển đến bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa để thăm khám (1).

    Điều trị

    Khởi đầu điều trị bằng thay đổi lối sống, nếu không đáp ứng hoặc các triệu chứng vẫn tiếp diễn, chuyển sang điều trị bằng thuốc. Sử dụng thuốc kháng acid khi cần thiết, alginat hoặc sucralfat. Ở những bệnh nhân có triệu chứng dai dẳng, bổ sung thuốc đối kháng thụ thể histamin 2, nếu các triệu chứng không thuyên giảm, chuyển sang thuốc ức chế bơm proton (PPI). (2)

     

    Hình 1. Phác đồ điều trị theo từng bước cho bệnh GERD ở phụ nữ mang thai.

    H2RA: Thuốc đối kháng thụ thể histamin 2; PPI: Thuốc ức chế bơm proton.

     

    1. Thay đổi lối sống

    – Chế độ ăn chia nhỏ thành nhiều bữa (5 đến 7 bữa một ngày).

    – Nâng cao đầu giường (25cm), hoặc nằm gối cao 20-22o.

    – Nằm nghiêng về bên trái (giúp giảm thời gian tiếp xúc acid thực quản và đẩy nhanh tốc độ làm sạch acid thực quản).

    – Giảm hoặc tránh các loại thực phẩm có thể gây ra triệu chứng: chất béo, gia vị, thức ăn cay nóng, trái cây họ cam quýt, đồ uống có ga, rượu,..

    – Ăn tối cách 3 tiếng trước khi đi ngủ.

    – Không hút thuốc.

    – Không uống rượu bia (1).

    2. Thuốc kháng acid

    Cơ chế hoạt động là trung hòa acid dạ dày sau khi acid được tiết ra. Khoảng 30-50% phụ nữ mang thai kiểm soát được triệu chứng bằng thuốc kháng acid, hiệu quả nhanh chóng nhưng tạm thời trong việc giảm chứng ợ nóng và an toàn trong suốt thai kỳ và thời kỳ cho con bú (1).

    Bảng 1. Thuốc kháng acid trong thời kỳ mang thai

    Thuốc

    Phân loại FDA

    Ghi chú

    Thuốc kháng acid (nhôm, canxi hoặc magie)

    Không có

    Thuốc kháng acid chứa canxi đã cho thấy tác dụng phòng ngừa tăng huyết áp và tiền sản giật. Thuốc kháng acid chứa magie sulfat làm giảm nguy cơ sản giật đến 50%.

    Magie trisilicat

    Không có

    Không khuyến cáo sử dụng. Sử dụng kéo dài có thể dẫn đến suy hô hấp ở thai nhi, giảm trương lực cơ, các vấn đề về tim mạch và sỏi thận.

    Natri bicacbonat

    Không có

    Không khuyến cáo sử dụng. Có liên quan đến tình trạng nhiễm kiềm chuyển hóa và quá tải dịch ở thai nhi và mẹ.

    Lưu ý:

    Tác dụng phụ ít gặp khi hấp thụ quá nhiều canxi cacbonat có thể gây ra hội chứng sữa- kiềm ở liều > 1,4 g/ngày canxi nguyên tố, ít gây ảnh hưởng đến trẻ sơ sinh.

    Nhôm và magie hydroxit có khả năng kiểm soát chứng ợ nóng nhưng không cải thiện tình trạng buồn nôn hoặc nôn trớ. Nhôm và magie hydroxit kết hợp với dimethicon cải thiện chứng ợ nóng ở 93% phụ nữ mang thai (1).

    3. Alginat

    Cơ chế hoạt động là sau khi tiếp xúc với acid dạ dày, kết tủa thành một lớp gel, hình thành màng chắn vật lý bảo vệ niêm mạc dạ dày. Thuốc này an toàn và hiệu quả trong tam cá nguyệt thứ hai và thứ ba của thai kỳ, giúp cải thiện triệu chứng ở 98% phụ nữ mang thai, giảm tần suất, cường độ và thời gian của các triệu chứng trào ngược. Sử dụng lâu dài có thể gặp tác dụng phụ ở thai phụ như tăng huyết áp, buồn nôn và tiêu chảy (1).

    4. Sucralfat

    Sucralfat là thuốc điều trị bậc hai khi các triệu chứng vẫn còn sau khi sử dụng thuốc kháng acid. Thuốc này bao gồm một disaccharid sulfat hóa và muối nhôm. Thuốc hấp thu kém, đảm bảo an toàn cho phụ nữ mang thai và cho con bú, tuy nhiên thời gian tác dụng ngắn (1). Cơ chế hoạt động disaccharid sulfat hóa phản ứng với acid hydroclorid trong dạ dày để tạo thành một chất nhầy bám vào niêm mạc bị tổn thương, làm bất hoạt pepsin và ngăn ngừa sự phát triển của loét. Nó có thể kích thích các cơ chế sửa chữa như tăng nồng độ prostaglandin trong niêm mạc. Chưa có báo cáo nào về các tác dụng phụ bất lợi đối với mẹ hoặc thai nhi (1).

    5. Thuốc đối kháng thụ thể histamine (H2RA)

    Thuốc đối kháng thụ thể H2 được coi là phương pháp điều trị bậc ba cho bệnh GERD trong thai kỳ. Famotidin và nizatidin có thể kết hợp với thuốc kháng acid. Cơ chế ức chế cạnh tranh sự gắn kết của histamin với thụ thể histamin 2, ức chế tiết acid dạ dày và sản xuất pepsin và gastrin. Hiệu quả giảm triệu chứng sau uống khoảng 60 phút, kéo dài từ 4-10 giờ. Nên dùng thuốc trước khi đi ngủ với liều duy nhất. Để sử dụng theo nhu cầu, nên uống thuốc từ 30 đến 60 phút trước khi ăn thức ăn gây kích ứng.

    Cimetidin có thể gây ra tác dụng kháng androgen ở động vật, làm giảm kích thước tinh hoàn, tuyến tiền liệt và túi tinh. Ranitidin đã chứng minh hiệu quả và độ an toàn trong thai kỳ, nhưng đã bị FDA ngừng sử dụng vào năm 2018. Không có nghiên cứu nào trên động vật cho thấy famotidin có độc tính đối với thai nhi hoặc gây quái thai. Trong các nghiên cứu trên thỏ, nizatidine gây ra nhiều trường hợp sảy thai tự phát hơn, trọng lượng thai nhi thấp hơn và số lượng thai nhi sống ít hơn. Những phát hiện này không được lặp lại trong các nghiên cứu trên chuột (1).

    6. Thuốc ức chế bơm proton (PPI)

    Thuốc ức chế bơm proton (PPI) là phương pháp điều trị bậc bốn cho bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD) trong thai kỳ. Khi thuốc kháng acid và thuốc đối kháng thụ thể H2 không đủ để kiểm soát triệu chứng, nên sử dụng PPI kết hợp với thuốc kháng acid. Cơ chế ức chế tiết acid dạ dày bằng cách ức chế trực tiếp bơm proton trên tế bào thành dạ dày.

    Bảng 2. Thuốc ức chế bơm proton

    Thuốc

    phân loại FDA

    Bình luận

    Omeprazol

    C

    Đã quan sát thấy độc tính đối với thai nhi ở động vật. Các báo cáo trên người cũng đề cập đến những phát hiện tương tự.

    Lansoprazol

    B

    Không liên quan đến độc tính đối với thai nhi hoặc vô sinh.

    Trọng lượng thai nhi thấp đã được ghi nhận trong các nghiên cứu trên động vật.

    Pantoprazol

    B

    Các nghiên cứu trên người chưa cho thấy độc tính đối với thai nhi trong ba tháng đầu thai kỳ.

    Esomeprazol

    B

    Dữ liệu trên người cho thấy nguy cơ dị tật cấu trúc thấp.

    Dexlansoprazol

    B

    Thông tin hiện có còn hạn chế.

    Một nhóm thuốc mới có hiệu quả cao để điều trị GERD, được gọi là thuốc ức chế acid cạnh tranh kali (vonoprazan, tegoprazan và fexuprazan), hiện đã có trên thị trường; tuy nhiên, trong HDSD của các thuốc này chống chỉ định trong thời kỳ mang thai và cho con bú (1).

    Bảng 3. Liều lượng các thuốc điều trị bệnh trào ngược dạ dày thực quản trong thời kỳ mang thai (1)

    Thuốc

    Liều lượng

    Phân loại FDA

    Thuốc kháng acid 

       

     Nhôm và magie hydroxit

    Uống 5–10 ml, 3–4 lần mỗi ngày, 1 giờ sau bữa ăn. Liều tối đa: 40 ml/ngày.

    Không có

     Canxi carbonat

    Uống 1-2 viên nhai 500 mg, 3-4 lần mỗi ngày, 1-2 giờ sau bữa ăn (Liều tối đa: 12 viên/ngày).

    Không có

         

    Alginat  

     

    Không có

     Thuốc dạng lỏng

    Uống 10–20 ml, 3 lần mỗi ngày, sau bữa ăn và trước khi đi ngủ.

     

    Sucralfat 

    Uống 1g, 3 lần mỗi ngày, 1 giờ trước bữa ăn.

     

    Thuốc đối kháng thụ thể H2

       

     Famotidine

    Uống 40 mg, một lần mỗi ngày vào giờ đi ngủ.

    B

    Thuốc ức chế bơm proton

    Uống 30-60 phút trước bữa sáng.

     

     Omeprazol

    Uống 20 mg mỗi ngày một lần.

    C

     Lansoprazol

    Uống 30 mg mỗi ngày một lần.

    B

     Pantoprazol

    Uống 40 mg mỗi ngày một lần

    B

     Esomeprazol

    Uống 20 mg mỗi ngày một lần.

    B

     Dexlansoprazol

    Uống 60 mg mỗi ngày một lần.

    B

     

    Tài liệu tham khảo

    (1)  Ortiz-Olvera, N., Ochoa-Maya, J.P. and González-Martínez, M.A., 2025. Gastroesophageal reflux disease and pregnancy: recommendations for safe treatment. Gaceta médica de México, 161(2), pp.125-132.

    (2)  Peter J Kahrilas, MD, 2025, Initial management of gastroesophageal reflux disease in adults, Uptodate, Ngày truy cập 06/01/2026.

    DS. Huỳnh Phương Thảo

    Kết nối với Bệnh viện Từ Dũ