Tin tức & sự kiện
Bisphosphonates: dùng trong bao lâu là đủ?

Bisphophonates là thuốc chính yếu trong điều trị loãng xương. Đánh giá lâm sàng mở rộng chứng minh lợi ích của Biphosphonate trong việc ngăn chặn sự tiến triển của bệnh và giảm nguy cơ gãy xương. Trong quá trình đánh giá về khoảng thời gian tối ưu điều trị bằng Bisphosphonate, FDA đã tìm thấy rất ít lợi ích khi điều trị trên 5 năm [1,2]. Ngoài ra, các dữ liệu nghiên cứu về gãy xương trên những bệnh nhân đã sử dụng Bisphosphonate ít nhất 3 năm đã cho thấy rằng mật độ khoáng xương ở cổ xương đùi và cột sống thắt lưng được duy trì nhưng tốc độ giảm gãy xương không phù hợp. Ngoài ra, tiếp tục sử dụng Bisphosphonate sau 5 năm còn liên quan đến tăng nguy cơ bị chứng vỡ xương đùi hiếm gặp, hoại tử xương hàm và ung thư thực quản. Những phát hiện này đã khiến FDA đưa ra các khuyến cáo sửa đổi  việc sử dụng những thuốc này sau 3-5 năm.

Theo khuyến cáo  mới của FDA, ghi rõ sửa đổi trong việc ghi nhãn rằng "thời hạn sử dụng tối ưu chưa được xác định. Sự cần thiết cho tiếp tục điều trị nên được đánh giá lại theo một chu kỳ". Tuy nhiên, chưa áp đặt một giới hạn cụ thể thời gian điều trị. FDA lưu ý "không có thỏa thuận trong phạm vi sử dụng tích lũy Bisphophonate làm tăng nguy cơ "gãy xương không điển hình.

Cảnh báo và các biện pháp phòng ngừa cho việc sử dụng Bisphosphonate bao gồm:

  • Có thể xảy ra kích ứng niêm mạc tiêu hóa phần trên nặng. Thực hiện theo hướng dẫn sử dụng thuốc. Sử dụng thận trọng trên bệnh nhân có bệnh bộ phận tiêu hóa  phần trên. Ngừng sử dụng nếu có triệu chứng mới hoặc triệu chứng tồi tệ đi.
  • Tình trạng canxi máu thấp có thể nặng hơn và phải được điều chỉnh trước khi dùng.
  • Có thể xảy ra đau cơ, đau khớp, đau xương nặng. Ngưng sử dụng nếu phát triển các triệu chứng nghiêm trọng.
  • Hoại tử xương hàm đã được báo cáo.
  • Đã có báo cáo về gãy xương đùi không điển hình.

Theo khuyến cáo cập nhật FDA, Bisphophonate được phê chuẩn điều trị, bao gồm FOSAMAX, FOSAMAX PLUS D, ACTONEL, ACTONELvới Calcium, BONIVA, ATELVIA, và RECLAST (và các thuốc generic tương đương). Không có trong các khuyến cáo mới và trên nhãn các thuốc sau chỉ ghi là điều trị bệnh Paget hoặc tăng can-xi máu ác tính (DIDRONEL, ZOMETA, SKELID và các sản phẩm generic của chúng).

Bisphosphonate lần đầu tiên được phê duyệt ở Mỹ để điều trị và phòng ngừa loãng xương vào năm 1995. Những thuốc này phát huy tác dụng thông qua cơ chế hoạt động kết hợp vật lý và sinh hóa. Đáng chú ý là, Bisphophosnate gắn với hydroxyapatit trong xương, chúng được đưa vào nền xương. Cơ chế hoạt động chính của Bisphosphonate là làm giảm tiêu xương. Thời gian bán thải của Alendronat ở người được tính là hơn 10 năm, phản ánh việc phóng thích Alendronat chậm từ bộ xương. Người ta ước tính rằng, sau khoảng 10 năm điều trị bằng uống Natri Alendronat (10mg mỗi ngày), số lượng Alendronat được phóng thích từ bộ xương khoảng 25% lượng hấp thu từ đường tiêu hóa. Do đó, xương đóng vai trò như một hồ chứa đáng kể cho Bisphophosnate, và phải được cân nhắc khi đưa ra các khuyến nghị về việc sử dụng  các thuốc này lâu dài.

Theo đánh giá lại của FDA, mong đợi các bác sĩ sẽ giới hạn sử dụng Bisphosphonate trên bệnh nhân không hơn 5 năm và có thể là 3 năm.

Ds. Huỳnh Thị Hồng Gấm (Lược dịch)
Khoa Dược - BV Từ Dũ

Trích nguồn 

Peter A. Friedman. Bisphosphonates: How Long  Is Enough?                  

Tài liệu tham khảo 

       
  1. FDA Drug Safety Communication:  Ongoing safety review of oral osteoporosis drugs (bisphosphonates) and  potential increased risk of esophageal cancer (http://1.usa.gov/R0Zb2S).   
  1. Background Document for Meeting of Advisory Committee for Reproductive Health Drugs and Drug Safety and Risk Management Advisory Committee (http://1.usa.gov/oQbZNn).
  2.  
Khác
Nội dung: Các thuốc trong nhóm Estrogen hoặc thuốc ngừa thai estroprogestogen Chú ý khi chỉ định dùng thuốc Tương tác thuốc
21/11/2012
Viêm mũi dị ứng thường tồn tại từ trước khi mang thai, mặc dù bệnh có thể phát triển hoặc được ghi nhận lần đầu tiên trong thai kỳ. Bệnh nhân viêm mũi dị ứng đôi khi than phiền có triệu chứng hắt hơi nhiều, ngứa mũi, chảy nước mũi, một số bệnh nhân đồng thời bị ngứa và kích ứng mắt. Bệnh viêm mũi sẵn có từ trước có thể xấu đi, cải thiện, hoặc không thay đổi trong thời gian mang thai. Nguyên nhân phổ biến gây viêm mũi dị ứng gồm mạt bụi, nấm mốc, phấn hoa, lông thú vật.
09/10/2012
Khuyến cáo điều trị Corticosteroid 1 đợt duy nhất cho những thai phụ giữa tuần thai 24 và 34, có nguy cơ sinh non trong vòng 7 ngày. Điều trị Corticosteroid trước sinh 1 đợt duy nhất cho những thai phụ bị vỡ màng ối trước 32 tuần thai để giảm nguy cơ trẻ bị hội chứng suy hô hấp, tử vong chu sinh và các bệnh tật khác. Hiệu quả của việc sử dụng Corticosteroid cho tuổi thai đủ 32-33 tuần, ối vỡ non chưa được rõ ràng, nhưng điều trị có thể sẽ hữu ích, đặc biệt nếu phổi chưa trưởng thành.
09/10/2012
Với các báo cáo hỗ trợ của ACOG, FDA gần đây đã phê duyệt vào ngày 03 tháng 2 năm 2011, chứng minh không có sự thay thế khác, sử dụng bổ sung Progesteron để giảm nguy cơ sinh non tái phát ở những phụ nữ có nguy cơ cao không là vấn đề còn nghiên cứu.
25/09/2012